Tổng hợp

Năm 2022, say rượu đánh người gây thương tích bị phạt như thế nào?

Say rượu, đánh người gây thương tích bị phạt như thế nào? Gây thương tích bao nhiêu % bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tóm tắt câu hỏi:

Thưa anh, em có trường hợp ông hàng xóm gần nhà em có uống rượu say xông đến nhà em để quậy phá. Hôm đấy bố của em cũng uống nhiều rượu không làm chủ được bản thân nên đã không may ủi người ta bị ngã, bị ảnh hưởng đến vùng đầu và cũng đi giám định sức khỏe mặt 59%. Bây giờ nhà người ta có làm đơn tố cáo bố em liệu có phải đi tù không?

Bạn đang xem: Năm 2022, say rượu đánh người gây thương tích bị phạt như thế nào?

Luật sư tư vấn:

Căn cứ Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 quy định tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác như sau:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua tổng đài:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm

Bạn chưa nói rõ, bố bạn có hành vi đánh nhau với người này hay không? Nguyên nhân dẫn đến đánh nhau của hai bên là như thế nào? Hay chỉ do bố của bạn đang trong tình trạng say rượu không nhận thức được hành vi của mình, đã ủi người này va vào tường gây tỷ lệ thương tật cho họ là 59%? Bố bạn có dùng hung khí gì hay không? (Ví dụ: dao, kiếm,…)

Điều 13 Bộ luật hình sự 2015 quy định người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

Như vậy, nếu bố bạn trong tình trạng say rượu, có đánh nhau với người hàng xóm gây tỷ lệ thương tật cho người hàng xóm là 59% thì bố bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự 2015, tuy nhiên cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét đến nguyên nhân của vụ việc đánh nhau trên để xác định trách nhiệm hình sự đối với bố của bạn.

1. Giáo viên đánh người gây thương tích có bị thôi việc không?

Tóm tắt câu hỏi:

Tôi và nhà bên cạnh có xảy ra mâu thuẫn tranh chấp, một hôm tôi đang ở nhà thì anh Hồng (nhà tranh chấp với nhà tôi) có nhờ tôi sang dịch chuyển tủ gỗ. Tôi không nghĩ gì và giúp đỡ nhưng khi sang đến nơi thì bị người này dùng gậy phang tới tấp vào mặt, gáy và chân tôi. Tôi hô hoán thì được hàng xóm sang giúp đỡ, tôi đi bệnh viện và phải vá vai mất 6 mũi, gãy sống mũi và còn nhiều vết thương nhỏ khác. Tôi đã trình báo công an và yêu cầu giải quyết và người này đã bị xử 8 tháng tù giam. Hiện nay anh ta là giáo viên của trường cấp 3 công lập cùng huyện, vậy cho tôi hỏi sau anh ta đi tù về vẫn được đi dạy hay không? Vì đối tượng này không đáng làm giáo viên? Tôi xin cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Theo quy định của Luật Viên chức 2010

“Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Như vậy, anh Hồng thuộc đối tượng viên chức.”

Cũng theo quy định tại Nghị định số 27/2012/NĐ-CP:

“Điều 13. Buộc thôi việc

Hình thức kỷ luật buộc thôi việc áp dụng đối với viên chức có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây:

1. Bị phạt tù mà không được hưởng án treo hoặc bị Tòa án kết án về hành vi tham nhũng;

2. Không tuân thủ quy trình, quy định chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp và quy tắc ứng xử trong khi thực hiện hoạt động nghề nghiệp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;

3. Sử dụng giấy tờ không hợp pháp để được tuyển dụng vào đơn vị sự nghiệp công lập;

4. Nghiện ma túy có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền;

5. Tự ý nghỉ việc, tổng số từ 07 ngày làm việc trở lên trong một tháng hoặc từ 20 ngày làm việc trở lên trong một năm mà không có lý do chính đáng được tính trong tháng dương lịch; năm dương lịch;

6. Vi phạm ở mức độ đặc biệt nghiêm trọng quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự; quy định của pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kỷ luật lao động; phòng, chống tệ nạn xã hội và các quy định khác của pháp luật liên quan đến viên chức.”

Như vậy, ngoài việc phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi cố ý gây thương tích thì đối tượng này sẽ buộc phải thôi việc theo quy định về xử lý kỷ luật đối với viên chức.

2. Tranh chấp đất đai, đánh người gây thương tích xử lý như thế nào?

Tóm tắt câu hỏi:

Luật sư tôi muốn hỏi về sự việc tranh chấp đất đai giữa gia đình tôi và và gia đình ông A. Sự việc là cách đây vài năm, gia đình tôi có mở 1 con đường đi để tiện cho việc chở cà phê chở phân, không phải vác lên đồi mà có thể chạy xe lên đồi (đất nhà tôi không có đường nhưng gia đình tôi tự mở và tôi có sổ đỏ để chứng minh phần đất đó thuộc gia đình tôi). Ông A thấy vậy thì qua xin đi ké (ông A cũng là người làng cùng quê nên anh em xa gần gia đình tôi đồng ý cho đi ké, không xảy ra việc trao đổi mua bán con đường đó. Ông A cũng có con đường trước vẫn đi, nhưng đi đường ké nhà tôi thì tiện hơn). Trong lúc mở đường nhà tôi thuê máy múc múc đường, nhà ông A thấy vậy xin phụ với gia đình tôi tiền xi măng lát đường, thì hai bên mỗi bên 1 nửa tiền xi măng với công làm. Hai bên đi lại bình thường. Đến tháng 4/2016 ông A tự nhận con đường đó là của nhà ông A. Xảy ra cãi vã. Gia đình tôi cấm không cho ông A đi lại và rào đường lại. Nhưng ông A gỡ phần rào và đi lại ngang nhiên. Thấy vậy bố tôi sang nhà và nói chuyện rằng không cho ông A đi lại, thì ông A cãi nói rằng đó là đường nhà ông A và dùng chồng ghế đánh bố tôi chảy máu. Như vậy gia đình tôi viết đơn gửi thôn yêu cầu giải quyết. Thôn yêu cầu hòa giải giữa 2 bên. Khoảng hơn tháng sau ông A làm đơn kiện gia đình tôi lên xã. Xã mời gia đình tôi lên hòa giải 3 lần đều không thành công. Tôi xin hỏi luật sư sau 3 lần hòa giải không thành công thì gia đình tôi cần phải làm sao?

Luật sư tư vấn:

Trong các nguyên tắc giải quyết tranh chấp về đất đai thì Nhà nước luôn khuyến khích và hòa giải, cụ thể quy định tại Điều 202 Luật đất đai 2013 như sau:

“1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.

Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.”

Điều 203.Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

Theo đó, sau khi việc hòa giải không thành thì mới tiếp tục khởi kiện lên tòa án nhân dân cấp quận, huyện nơi có bất động sản theo đúng trình tự thủ tục theo Điều 203 Luật đất đai năm 2013 như sau:

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.”

Trong trường hợp của bạn, thì trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bạn có thể hiện phần đất đó thuộc gia đình bạn.  Vì vậy, bạn có thể căn cứ vào quy định trên để khởi kiện nhằm đòi lại phần đất đã bị lấn chiếm của mình, để làm được điều đó, bạn cần chứng minh phía hàng xóm đã có những  hành vi lấn chiếm đất đai và bạn là chủ sở hữu hợp pháp của phần đất đó.

Ngoài ra đối với hành vi ông A và dùng chồng ghế đánh bố bạn chảy máu khi bố bạn sang thương lượng hòa giải. Nếu mức thương tích nhẹ, dưới 11% thì bố bạn có thể tố cáo ra cơ quan công an cấp huyện để xử lý vi phạm hành chính đối với ông A về tội “Xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe của người khác” và bị phạt từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng theo Điểm e, Khoản 3, Điều 5, Nghị định 167/2013/NĐ-CP. Với thương tích trên 11% thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích theo quy định tại Điều 134, Bộ luật hình sự năm 2015.

3. Đánh người gây thương tích và trộm cắp tài sản

Tóm tắt câu hỏi:

Chào các anh chị Luật sư, em tên là Diệu Thắng, năm nay 24 tuổi, quê quán tại An Giang nhưng đang sinh sống và làm việc tại Củ Chi. Em có một thắc mắc mong được sự tư vấn từ anh chị. Chuyện là cha em năm nay 58 tuổi tên là Lữ Văn Đương, do con cái đi làm xa hết nên sống 1 mình ở nhà. Nhà em và nhà hàng xóm kế bên tên là Năm Tộ cứ hay xích mích về ranh đất do bên kia hay lấn sang nhà em. Một tháng trước cha em vô tình thấy rác trong sàn nhà do cỏ mà ông Năm bỏ sang sân em (Vì kế bên là mảnh đất ông Năm trồng thuốc nam), vô tình thấy ông Năm làm hàng rào lấn sang cọc ranh đất là 48 cm. Cha em tức quá có lời qua tiếng lại, không ngờ ông Năm và con rể sang đánh cha em. Cha em lúc đó ở nhà cùng 1 người bạn, nhưng khi đánh chú ấy không hay. Khi đánh xong chú ấy mới hô toán và báo cho chị gái em nhà ở gần đó hay. Và kết quả là cha em nằm viện 3 ngày bị hở xương vai, gãy 1 cái răng và mô mềm trên mặt bị tổn thương, nhưng quan trọng hơn là 2 chỉ vàng và 300 ngàn của cha em đều bị mất, trong lúc đó gia đình em cũng có gửi đơn đến công an xã. Sau quá trình điều tra, công an xã yêu cầu gia đình ông Năm bồi thường cho gia đình em 13 triệu với các khoản: Tiền viện phí, tiền dưỡng bệnh, tiền lao động bị mất trong quá trình nghỉ dưỡng và đền bù tiền vàng bị mất. Nhưng gia đình ông Năm không chấp nhận, ông ấy chỉ đồng ý chi trả tiền viện phí với số tiền 2,7 triệu đồng. Công an xã yêu cầu nhà em gửi đơn xuống huyện vì họ hết quyền. Vậy xin cho em hỏi:

1. Công an xã có đúng đã hết quyền hay chưa?

2. Xin tư vấn giúp em phương hướng đi tiếp theo?

3. Nếu bị xử lý thì ông Năm sẽ bị xử lý như thế nào? Em xin chân thành cám ơn các anh chị!

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất, hành vi cố ý đánh người gây thương tích của ông Năm đối với cha bạn có thể phải chịu những trách nhiệm như sau:

Một là khi hành vi đánh người gây thương tích chưa có dấu hiệu của tội phạm thì ông Năm sẽ phải chịu trách nhiệm hành chính. Cụ thể là hành vi đánh người gây thương tích sẽ bị chịu trách nhiệm hành chính quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP:

“2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau;

b) Báo thông tin giả đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

c) Say rượu, bia gây mất trật tự công cộng;

d) Ném gạch, đất, đá, cát hoặc bất cứ vật gì khác vào nhà, vào phương tiện giao thông, vào người, đồ vật, tài sản của người khác;

đ) Tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự công cộng;

e) Để động vật nuôi gây thiệt hại tài sản cho người khác;

g) Thả diều, bóng bay, chơi máy bay, đĩa bay có điều khiển từ xa hoặc các vật bay khác ở khu vực sân bay, khu vực cấm; đốt và thả “đèn trời”;

h) Sách nhiễu, gây phiền hà cho người khác khi bốc vác, chuyên chở, giữ hành lý ở các bến tàu, bến xe, sân bay, bến cảng, ga đường sắt và nơi công cộng khác.”

Vì gia đình bạn gửi đơn tố cáo đến công an xã nên công an xã là người thụ lý đầu tiên nên có thẩm quyền giải quyết. Căn cứ vào khoản 3 Điều 66 Nghị định 167/2013/NĐ-CP thì thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Trưởng công an xã có quyền:

“a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 1.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình; đến 2.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội và lĩnh vực phòng, chống tệ nạn xã hội; đến 2.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy;

c) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại Điểm b Khoản này;

d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các Điểm a, c và đ Khoản 1 Điều 28 Luật xử lý vi phạm hành chính.”

Như vậy, nếu hành vi đánh người gây thương tích chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì sẽ bị xử phạt là 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Nếu không có tình tiết tăng nặng giảm nhẹ thì mức phạt là 750.000 đồng là mức trung bình. Trong trường hợp này, trưởng công an xã có thẩm quyền xử phạt hành vi này vì thẩm quyền xử phạt là 2.000.000 đồng.

Hai là khi hành vi đánh người gây thương tích có dấu hiệu phạm tội thì cơ quan công an sẽ tiến hành khởi tố đối với hành vi của ông Năm.

Căn cứ vào Điều 25 Luật tố cáo 2011 quy định như sau:

“Sau khi có kết luận nội dung tố cáo, người giải quyết tố cáo tiến hành xử lý như sau:

1. Trường hợp kết luận người bị tố cáo không vi phạm quy định trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ thì phải thông báo bằng văn bản cho người bị tố cáo, cơ quan quản lý người bị tố cáo biết, khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo bị xâm phạm do việc tố cáo không đúng sự thật gây ra, đồng thời xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người cố ý tố cáo sai sự thật;

2. Trường hợp kết luận người bị tố cáo vi phạm quy định trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ thì áp dụng các biện pháp xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật;

3. Trường hợp hành vi vi phạm của người bị tố cáo có dấu hiệu tội phạm thì chuyển ngay hồ sơ vụ việc cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền để giải quyết theo quy định của pháp luật.”

Khi hành vi có dấu hiệu tội phạm thì người giải quyết tố cáo phải chuyển ngay hồ sơ vụ việc cho cơ quan điều tra hoặc viện kiểm sát có thẩm quyền để giải quyết. Khi có dấu hiệu của tội phạm thì ông Năm có thể bị khởi tố tội danh cố ý gây thương tích cho người khác quy định tại Điều 134 “Bộ luật hình sự 2015”:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

Căn cứ khởi tố vụ án hình sự được quy định tại Điều 143 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 như sau:

Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:

1. Tố giác của cá nhân;

2. Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

3. Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;

4. Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;

5. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;

6. Người phạm tội tự thú.

Trách nhiệm giải quyết tố giác được quy định tại Điều 145 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 như sau:

1. Mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải được tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận không được từ chối tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

2. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gồm:

a) Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;

b) Cơ quan, tổ chức khác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm.

3. Thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố:

a) Cơ quan điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo thẩm quyền điều tra của mình;

b) Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm theo thẩm quyền điều tra của mình;

c) Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục.

4. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có trách nhiệm thông báo kết quả giải quyết cho cá nhân, cơ quan, tổ chức đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

Thứ hai là vấn đề bồi thường thiệt hại. Khi ông Năm cố ý gây thương tích cho cha của bạn thì ông Năm ngoài trách nhiệm hành chính hoặc trách nhiệm hình sự thì còn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Căn cứ khoản 1 Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 quy định như sau:

“1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.”

Căn cứ xác định mức bồi thường  được quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự 2015 như sau:

1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

d) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Khi đã có căn cứ xác định hành vi cố ý gây thương tích của ông Năm thì gia đình bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại. Về nguyên tắc, mức bồi thường thiệt hại do hai bên thỏa thuận. Nếu ông Năm không chịu trả mức bồi thường hoặc hai bên không thỏa thuận được mức bồi thường thì gia đình bạn có quyền khởi kiện ra Tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

4. Tư vấn hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm và đánh người gây thương tích

Tóm tắt câu hỏi:

Mẹ em làm trong một công ty dăm, 1 công nhân điều khiển robot đã hết giờ làm việc rồi mà công nhân này vẫn tiếp tục lại mở robot và bật bàn sàn lên làm có nhiều thái độ hốc hách, mẹ em có nói hết giờ làm rồi mà sao làm nữa nhưng công nhân này không thèm nói gì vẫn tiếp tục bật lên để làm. Nhưng công nhân chỉ bình thường chứ không có chức vụ gì to lớn. Mẹ em nói lần với công nhân này thôi. Mẹ em có đến gặp ba của công nhân (ba của công nhân làm bảo vệ ở công ty ) này nói: anh về nói với con anh người hàng xóm với nhau hết làm ở công ty. Hết giờ rồi thì nghĩ chứ ai mà hết giờ rồi cũng làm 1,2 lần thớ lở đang làm lỡ dở chưa xong thì làm luôn cũng được chứ đây tắt máy rồi mà cũng hết giờ làm rồi sao xe gỗ nhập vào là làm nữa, nó muốn làm ông nội ở xưởng đây hay sao vậy. Ba của công nhân này về nói lại với con ông ấy và vợ ông ấy sao không biết. Hai hôm sau mẹ của công nhân này nấu cơm trong công ty này đã gặp mẹ em, chửi mẹ em (chửi tục) rồi nói là con bà ấy làm đại ca khi nào, mẹ em có trả mẹ không có nói làm đại ca, chỉ nói làm ông nội thôi, rồi bà mẹ của công nhân lấy cây sắt đòi đánh mẹ em, mẹ em có nói mẹ em không có nói như bà ấy nghe còn có đánh thì nhắm nuôi nổi 3 người trong gia đình em thì đánh, lúc đó chồng bà này (nhân viên bảo vệ) nói đánh chết mẹ nó luôn sợ gì. Mẹ em không nói gì đi lên khu làm nhưng bà này không cho, xô đẩy mẹ em, rồi liên tục chửi mẹ em, nhục mạ mẹ em là làm đĩ này nọ. Mẹ em không làm đĩ mà bà này nói vậy đã xúc phạm đến mẹ em, mẹ em mới nói tôi không có làm đĩ, bà có thấy tôi làm đĩ không mà nói vậy, tôi có làm thì leo lên bàn thờ nhà bà làm lúc đó bà thấy rồi nói chứ còn không là không có làm đâu. Ngay lúc đó đứa con trai bà này nhào vô đánh mẹ em, tiếp đến là ba của công nhân này, tiếp nữa là mẹ của công nhân này, mẹ bị đánh rồi mẹ đã chạy không may là mẹ bị trật đôi dép bị ngã xuống thì lúc đó thêm con dâu là vợ của công nhân này đã đánh mẹ em liên tục, mẹ em không chống đỡ lại được. Tổng cộng có 4 người đánh mẹ em. Bây giờ mẹ em phải nhập viện, mẹ em làm người lao động chính trong gia đình nuôi 2 chị em em ăn học! Như vậy theo căn cứ tại các điều khoản của các văn bản pháp luật thì xử lý như thế nào? Đền bù ra sao? Bên nào đúng bên nào sai?

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất, đối với hành vi xúc phạm danh dự nhân phẩm mẹ bạn:

Theo thông tin bạn cung cấp, ba mẹ của người công nhân có hành vi chửi bới, xúc phạm mẹ bạn tại nơi làm việc, ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của mẹ bạn. Hành vi này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự Tội làm nhục người khác theo quy định tại Điều 155 Bộ luật hình sự 2015 như sau:

“Điều 155. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người đang thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên

b) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”

Nếu không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự thì người này sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Điểm a) Khoản 1 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP:

“1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; […]”

Thứ hai, đối với hành vi đánh mẹ bạn:

Theo thông tin bạn cung cấp, mẹ bạn bị 04 người đuổi đánh, khiến mẹ bạn bị thương và phải nhập viện để điều trị. Hành vi này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự Tội cố ý gây thương tích theo quy định theo quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 như sau:

“Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

…”

Nếu không đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015 thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo Điểm e) Khoản 3 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP:

“3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

e) Xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe của người khác;  […]”

Thứ ba, vấn đề bồi thường thiệt hại:

Theo như bạn trình bày, mẹ bạn bị cả 04 người cùng đánh, gây thiệt hại về sức khỏe cho mẹ bạn. Mặc dù nguyên nhân vụ xô xát cũng do từ phía mẹ bạn tuy nhiên việc gia đình người công nhân này đánh đuổi mẹ bạn là không đúng, những người này vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường cho mẹ bạn theo quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự 2015 như sau:

– Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:

+ Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

+ Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

+ Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

+ Thiệt hại khác do luật quy định.

– Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều 590 Bộ luật dân sự 2015 và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Như vậy, để đảm bảo quyền lợi cho mẹ bạn, mẹ bạn nên làm đơn tố cáo tới cơ quan công an cấp huyện nơi gia đình người công nhân hành hung mẹ bạn đang cư trú để yêu cầu giải quyết. 

5. Dùng cành cây đánh người bị phạt thế nào?

Tóm tắt câu hỏi:

Chào THPT Lê Minh Xuân! Tôi có 1 vấn đề thắc mắc cần được giải đáp: con trai tôi 18 tuổi trong 1 lần đi đá bóng sau khi kết thúc trận bóng có tranh cãi với 1 bạn đội khác và bạn đấy đã dùng những lời lẽ thô tục quá đáng chửi con tôi, lúc đấy con tôi có dùng cành cây đánh 5 lần liên tiếp vào bạn đấy. Sau đó Bạn đấy về nhà cầm dao lên nhà tôi đòi lấy mạng con tôi. Gia đình tôi đưa em ra viện khám thì bị trày xước da bình thường. Gia đình họ gửi đơn kiện con tôi vậy Cho tôi hỏi con tôi bị kiện thì với hành vi gì và mức xử phạt là bao nhiêu ? Xin cảm ơn !

Luật sư tư vấn:

Do bạn cung cấp thông tin chưa đầy đủ về tỷ lệ thương tích của người bị hại nên người có hành vi vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc xử phạt hành chính và phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

– Trách nhiệm hành chính:

Điểm e, Khoản 3, Điều 5 Nghị định167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình, quy định:

“3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

e) Xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe của người khác.”

Như vậy, con bạn có thể bị xử phạt hành chính với mức phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi xâm hại sức khỏe người khác.

– Trách nhiệm hình sự:

Dựa trên thông tin chị cung cấp, con chị có hành vi đánh người gây thương tích, tùy thuộc vào tỉ lệ thương tích của người bị hại mà con bạn có thể nhận những mức phạt khác nhau theo quy định tại Điều 134 của Luật sửa đổi bộ luật hình sự 2017. Cụ thể:

– Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm đối với người thực hiện một trong những hành vi sau:

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% và thuộc một trong các trường hợp sau đây:

* Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ.

* Có tính chất côn đồ.

– Phạt tù từ 02 năm đến 06 năm đối với người thực hiện một trong những hành vi sau:

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

+ Phạm tội 02 lần trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% và thuộc một trong các trường hợp sau đây:

* Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ.

* Có tính chất côn đồ.

– Phạt tù từ 05 năm đến 10 năm đối với người thực hiện một trong những hành vi sau:

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% và thuộc một trong các trường hợp sau đây:

* Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ.

* Có tính chất côn đồ.

– Phạt tù từ 07 năm đến 14 năm đối với người thực hiện một trong những hành vi sau:

+ Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên và thuộc một trong các trường hợp sau đây:

* Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ.

* Có tính chất côn đồ.

Tuy nhiên, chị có đề cập đến việc người bị hại dùng lời lẽ thô tục, quá đáng chửi con chị nên con chị dùng cành cây đánh người đó. Nếu có căn cứ chứng minh hành vi mắng chửi con chị của người bị hại có đầy đủ dấu hiệu cấu thành Tội làm nhục người khác (Điều 155 Bộ luật hình sự 2015) và hành vi này dẫn đến việc con chị đánh người trong trạng thái bị kích động mạnh thì con chị có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 135 Bộ luật hình sự 2015).

Tội làm nhục người khác được quy định tại Khoản 1 Điều 155 Bộ luật hình sự 2015 như sau: “Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.”

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được quy định như sau:

– Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm đối với người cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó.

tu-van-hanh-vi-xuc-pham-danh-du-nhan-pham-va-danh-nguoi-gay-thuong-tich

Luật sư tư vấn về pháp luật hình sự qua tổng đài: 

– Phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm đối với người thực hiện một trong các hành vi sau:

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người.

Như vậy, tùy vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà con bạn gây ra hoặc tỷ lệ thương tật của nạn nhân để có thể xác định được những trách nhiệm mà con chị phải chịu trước pháp luật.

Ngoài ra, người nào có hành vi xâm hại sức khỏe người khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Đăng bởi: THPT Lê Minh Xuân

Chuyên mục: Tổng hợp

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!