Tổng hợp

Các trường hợp, các tội danh nào không được đề nghị đặc xá?

Các trường hợp, các tội danh nào không được đề nghị đặc xá ? Quy định về đặc xá trong trường hợp đặc biệt ?

Đặc xá không chi là sự khoan hồng của pháp luật dành cho những người phạm tội mà đó cũng chính là con đường hoàn lương cho các phạm nhân có thể quay lại cuộc sống như bình thường và sống có ý nghĩa hơn. Bên cạnh đó cũng có những trường hợp các tội danh nào không được đề nghị đặc xá theo quy định của pháp luật. để biết những trường hợp và các tội danh nào không được đề nghị đặc xá gồm những gì? Hãy theo dõi ngay dưới đây nhé.

Bạn đang xem: Các trường hợp, các tội danh nào không được đề nghị đặc xá?

Luật sư tư vấn luật qua điện thoại trực tuyến miễn phí:

1. Các trường hợp, các tội danh nào không được đề nghị đặc xá:

Căn cứ theo quy định tại Điều 4. Các trường hợp không được đề nghị đặc xá quyết định Số: 1161/2021/QĐ-CTN về đặc xá năm 2021 quy định cụ thể như sau:

Người có đủ điều kiện quy định tại Điều 3 của Quyết định này không được đề nghị đặc xá nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1. Bị kết án phạt tù về tội phản bội Tổ quốc; tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân; tội gián điệp; tội xâm phạm an ninh lãnh thổ; tội bạo loạn; tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân; tội phá hoại cơ sở vật chất – kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tội phá rối an ninh; tội chống phá cơ sở giam giữ; tội khủng bố hoặc một trong các tội quy định tại Chương các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh của Bộ luật Hình sự;

2. Bản án, phần bản án hoặc quyết định của Tòa án đối với người đó đang bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo hướng tăng nặng trách nhiệm hình sự;

3. Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội khác;

4. Trước đó đã được đặc xá;

5. Có từ 02 tiền án trở lên;

6. Thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên sáu năm đối với người được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 3; trên tám năm đối với người được quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 3 Quyết định này;

7. Bị kết án phạt tù về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này;

8. Phạm tội giết người có tổ chức; giết người có tính chất côn đồ; cố ý gây thương tích có tổ chức hoặc có tính chất côn đồ hoặc phạm tội nhiều lần đối với một người hoặc một lần đối với nhiều người hoặc dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm; hiếp dâm có tính chất loạn luân; hiếp dâm trẻ em có tính chất loạn luân (theo Bộ luật Hình sự năm 1999) hoặc hiếp dâm người dưới 16 tuổi có tính chất loạn luân hoặc hiếp dâm người dưới 10 tuổi; cướp tài sản có sử dụng vũ khí; cướp tài sản, cướp giật tài sản, trộm cắp tài sản có tổ chức hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng; chống người thi hành công vụ có tổ chức hoặc phạm tội từ 02 lần trở lên hoặc gây hậu quả nghiêm trọng hoặc xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội; cướp tài sản nhiều lần, cướp giật tài sản nhiều lần, trộm cắp tài sản nhiều lần (từ hai lần trở lên);

9. Phạm tội về ma túy hoặc tội cướp tài sản hoặc tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản mà thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên 01 năm đối người bị kết án phạt tù dưới 07 năm hoặc thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên 02 năm đối người bị kết án phạt tù từ 07 năm đến 15 năm hoặc thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên 03 năm đối người bị kết án phạt tù trên 15 năm, tù chung thân;

10. Phạm một trong các tội quy định tại Chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người của Bộ luật Hình sự do cố ý mà thời hạn tù còn lại trên 02 năm đối với người bị kết án phạt tù từ 10 năm đến 15 năm hoặc thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên 03 năm đối người bị kết án phạt tù trên 15 năm, tù chung thân;

11. Người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy trong vụ án phạm tội có tổ chức; người dùng thủ đoạn xảo quyệt, ngoan cố chống đối trong vụ án phạm tội có tổ chức; người phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;

12. Có căn cứ khẳng định đã sử dụng trái phép các chất ma tuý;

13. Bị kết án phạt tù do phạm từ ba tội trở lên hoặc phạm từ hai tội do cố ý trở lên, kể cả trường hợp tổng hợp hình phạt;

14. Có một tiền án mà lại bị kết án phạt tù về tội do cố ý;

15. Đã từng bị kết án phạt tù, kể cả trường hợp đã được xóa án tích hoặc đã từng bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, kể cả cơ sở giáo dục trước đây hoặc đã từng bị đưa vào trường giáo dưỡng mà bị kết án phạt tù về một trong các tội sau đây: Về ma tuý; giết người; hiếp dâm trẻ em (theo Bộ luật Hình sự năm 1999) hoặc hiếp dâm người dưới 16 tuổi; cướp tài sản; cướp giật tài sản; cưỡng đoạt tài sản; lừa đảo chiếm đoạt tài sản; trộm cắp tài sản; bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; chống người thi hành công vụ; mua bán phụ nữ (theo Bộ luật Hình sự năm 1985) hoặc mua bán người; mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (theo Bộ luật Hình sự năm 1999) hoặc mua bán người dưới 16 tuổi hoặc đánh tráo người dưới 01 tuổi hoặc chiếm đoạt người dưới 16 tuổi; gây rối trật tự công cộng; tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; cho vay lãi nặng (theo Bộ luật Hình sự năm 1999) hoặc cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự; tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép.

Như vậy căn cứ theo quy định này chúng ta thấy có 15 trường hợp theo quy định thì không được đề nghị đặc xá bởi vì đây hầu hết là các tội phạm có tính chất nguy hiểm và một số trường hợp thì có nhiều tội danh. Theo Quyết định 1161/2021/QĐ-CTN của Chủ tịch nước quy định thực hiện đặc xá tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhân dịp Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2.9.2021). Thời gian đã chấp hành án phạt tù để xét đặc xá tính đến ngày 31.8.2021.

Ngoài ra chúng tôi nhận thấy quy định về các trường hợp, các tội danh nào không được đề nghị đặc xá là rất hợp lý bởi đây có thể là những phản ánh trân thực nhất để cộng đồng và dư luận có thể từ đó mà nhận thức được hành động và các hành vi gây nguy hiểm cho xã hội nhiều hơn. Ngoài giáo dục ý thức ra thì ở đây còn là một sự răn đe đối với những phạm nhân đã vi phạm phải chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với hành vi mà họ gây ra.

Người Việt Nam ta vốn có truyền thống bao dung: “Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại”. Việc đặc xá tha tù trước thời hạn đã thể hiện tính nhân văn của Đảng, Nhà nước ta, thì việc tiếp nhận những người được đặc xá, giúp họ tái hòa nhập cộng đồng lại là trách nhiệm của toàn xã hội mà trước hết là trách nhiệm của hệ thống chính trị các địa phương. Vì vậy ngay từ lúc này, lãnh đạo cấp ủy, chính quyền các địa phương cần phải tìm hiểu, xem xét hoàn cảnh của những người được đặc xá, để chuẩn bị phương án giúp đỡ cho phù hợp. Các tổ chức, đoàn thể cũng phải chung tay, giúp sức để tạo ra sức mạnh cộng đồng trong việc giúp đỡ những người được đặc xá. Đã có nhiều địa phương kêu gọi các doanh nghiệp trên địa bàn mở rộng cửa để đón những người được đặc xá vào làm việc. Trong thực tế cũng đã có rất nhiều người từng một thời lầm lỡ, nhưng nhận được sự giúp đỡ của cộng đồng, nên họ vượt qua được mặc cảm, tự đứng lên làm lại cuộc đời và trở thành các nhân tố tích cực trong xã hội. Đạt được điều đó là bởi họ được cấp ủy, chính quyền địa phương tạo điều kiện, được người thân, bà con chòm xóm mở rộng vòng tay, nên họ tìm lại được niềm tin trong cuộc sống. Tuy nhiên cũng cần phải xét từng trường hợp cụ thể theo quy định như đã nêu trên.

2. Quy định về đặc xá trong trường hợp đặc biệt:

Căn cứ theo quy định tại điều 5. Đặc xá trong trường hợp đặc biệt quyết định Số: 1161/2021/QĐ-CTN về đặc xá năm 2021 quy định cụ thể như sau:

Chính phủ chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan, tổ chức có liên quan lập hồ sơ của người được đề nghị đặc xá trong trường hợp đặc biệt theo Điều 22, Điều 23 của Luật Đặc xá để trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định.

Nhưu chúng ta đã biết thì đặc xá trong trường hợp đặc biệt phải tuân thử đúng quy định của phap luật cụ thể là theo các điều 22,23 theo luật đặc xá, mục đích là để đáp ứng yêu cầu về đối nội, đối ngoại của Nhà nước, Chủ tịch nước quyết định đặc xá cho người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, người đang được hoãn chấp hành án phạt tù, người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người đang chấp hành án phạt tù chung thân mà không phụ thuộc vào các điều kiện quy định của pháp luật đề ra.

Trên thực tế ta có thể thấy cũng còn có một số người sau đặc xá lại tái phạm. Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng tựu trung lại thì có hai yếu tố chính, đó là họ chưa thực sự cải tà quy chính và cũng không nhận được sự quan tâm, giúp đỡ hiệu quả của cộng đồng. Vì thế, để công tác đặc xá thực sự vẹn tròn ý nghĩa nhân văn, góp phần hạn chế tối đa tỷ lệ tái phạm thì trước hết công tác rà soát, bình xét đối tượng để đề nghị đặc xá phải được thực hiện chặt chẽ, nghiêm minh ngay từ đầu, bảo đảm lựa chọn đúng người xứng đáng được đặc xá. Khi người được đặc xá trở về, cấp ủy, chính quyền địa phương phải phân công người theo dõi, giúp đỡ, nhất là tạo điều kiện về việc làm, để họ có thể sống được bằng chính sức lao động của mình. Bản thân mỗi người được đặc xá cũng cần phải nhận thức rõ tính nhân văn, nhân đạo trong thực thi chính sách, pháp luật của Nhà nước ta, từ đó xây dựng niềm tin vào cộng đồng, quyết tâm bỏ đường tối, tìm đường sáng. Làm tốt những vấn đề trên không những giúp cho công tác đặc xá được thực hiện triệt để, hiệu quả mà còn tạo ra nền tảng để xây dựng xã hội ta ngày càng tốt đẹp hơn.

Đăng bởi: THPT Lê Minh Xuân

Chuyên mục: Tổng hợp

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!